Trang chủ  /  Lớp học Mô hình giá  /  Mô hình giá Broadening Top/Bottom

Mô hình giá Broadening Top/Bottom

 

Mô hình Broadening Top, Megaphone, Reverse Triangles, or Funnels

 

Broadening-Top.

Mô hình Broadening đôi khi được gọi là mô hình Megaphone, Reversed triangle hay mô hình Funnels. Giá mở rộng trong một phạm vi (= giá cao – giá thấp ) trong suốt thời gian (một giai đoạn) và đối nghịch với mô hình tam giác và mô hình cờ hiệu

Mô hình Mô hình Broadening Top xảy ra khi giá bắt đầu vào các mô hình từ dưới trong một xu hướng tăng. Sau đó, giá sẽ tạo thành đỉnh cao hơn (higher high) và đáy thấp hơn (lower low), và có ít nhất 2 đỉnh và 2 đáy để tạo thành đường hỗ trợ (đường vẽ dưới các đáy, chếch xuống về bên phải) và kháng cự thích hợp (đường vẽ trên các đỉnh, chếch lên về bên phải) tạo thành hình dạng giống cái Megaphone “<”.

Hướng phá vỡ mô hình Broadening Top và trung bình lãi tăng, giảm

 

Broadening-Top-Breakout-Direction-Avg-Max-Move.

Giá phá vỡ trên mức kháng cự khoảng một nửa thời gian và dưới mức hỗ trợ một nửa khác của thời gian; khi giá phá vỡ trên mức kháng cự (kích hoạt một tín hiệu mua), giá đạt được tối đa trung bình 29% trước bất kỳ sự điều chỉnh nào từ 20% trở lên; khi giá phá vỡ xuống dưới mức hỗ trợ (kích hoạt một tín hiệu bán), giá suy giảm tối đa trung bình 15% trước khi một sự điều chỉnh giá ngược hướng phá vỡ khoảng 20% (Bulkowski, 2005). Nên chú ý là Bulkowski (2005) đề nghị nhà giao dịch nên mua ở lần chạm thứ 3 vào hỗ trợ và bán ra ở lần chạm thứ 3 vào kháng cự.

Mô hình Broadening Bottom, Megaphone, Reversed triangle, Funnels

 

Broadening-Bottom.

Mô hình Broadening Bottom tương tự như mô hình Broadening Top nhưng mô hình Broadening Bottom xuất hiên sau một xu hướng giảm.

Hướng phá vỡ mô hình Broadening Bottom và trung bình mức trung bình tăng – giảm

 

Broadening-Bottom-Breakout-Direction-Avg-Max-Move.

Giá trong mô hình mô hình Broadening Bottom phá vỡ trên khoảng 53% thời gian và phá vỡ dưới khoảng 47% thời gian; khi giá phá vỡ phía trên, giá sẽ tăng tối đa trung bình là 27% trước 20% đảo chiều đầu tiên; và khi giá phá vỡ dưới mức hỗ trợ, giá giảm một mức tối đa trung bình là 15% (Bulkowski, 2005).

Những vấn đề đối với mô hình Broadening

Kirkpatrick và Dahlquist (2010) đã tìm thấy được nhiều vấn đề đối với mô hình Broadening gồm:

  • Đối sự phá vỡ mức kháng cự, giá liên tục tạo ra những đỉnh cao hơn mà không tạo tín hiệu mua nào sẽ làm giảm hiệu quả của tín hiệu mua cuối cừng; tương tự với sự phá vỡ dưới hỗ trợ, nơi mà giá liên tục tạo ra những đáy thấp hơn làm giảm sự mong đợi về một cú phá vỡ khi nó xảy ra.
  • Bởi vì biên độ là rất lớn sau khi mô hình Broadening hoàn thành, các điểm để đặt dừng lỗ là khá xa so với vùng giá phá vỡ (để vào lệnh), sẽ làm tăng rủi ro.
  • Mô hình Broadening khá hiếm và “thường khó xác định”
  • Hiệu suất trung bình là tốt nhất với những mô hình hành đầu như nêm tăng mở rộng .

Mục tiêu giá

Thông thường, chiều cao của mô hình Broadening Top hoặc mô hình Broadening Bottom được cộng vào mức phá vỡ kháng cự hoặc trừ cho mức phá vỡ dưới hỗ trợ để được một mục tiêu giá. Tuy nhiên, Bulkowski (2008) đề nghị cách tính toán cho mục tiêu giá sau đây dựa trên các nghiên cứu về biểu đồ của ông:

  • Mô hình Broadening Top phá vỡ lên trên

Giá phá vỡ trên mức kháng cự + ((Đỉnh cao nhất của sự hình thành mô hình Broadening Top – Đáy thấp nhất của sự hình thành mô hình Broadening Top)x 62%)

  • Mô hình Broadening Top phá vỡ xuống dưới

Giá phá vỡ dưới mức hỗ trợ – ((Đỉnh cao nhất của sự hình thành mô hình Broadening Top – Đáy thấp nhất của sự hình thành mô hình Broadening Top)x 37%)

  • Mô hình Broadening Bottom phá vỡ lên trên

Giá phá vỡ trên mức kháng cự + ((Đỉnh cao nhất của sự hình thành mô hình Broadening Bottom – Đáy thấp nhất của sự hình thành mô hình Broadening Bottom)x 59%)

  • Mô hình Broadening Bottom phá vỡ xuống dưới

Giá phá vỡ dưới mức hỗ trợ – ((Đỉnh cao nhất của sự hình thành mô hình Broadening Bottom – Đáy thấp nhất của sự hình thành Mô hình Broadening Bottom)x 44%)

Biểu đồ minh họa cho mô hình Broadening Top

 

Broadening-Top-Chart-Example.

Biểu đồ trên của Chevron (CVX) cho thấy một mô hình Broadening Top trong xu hướng tăng. Giá bắt đầu vào từ bên dưới (đặc điểm phân biệt mô hình Broadening Top với mô hình Broadening Bottom) và sau đó tạo ra hai đỉnh cao hơn và ba đáy thấp hơn, hình thành yếu tố giúp tạo thành đường hỗ trợ đi xuống và đường kháng cự đi lên. Giá vượt lên trên đường kháng cự và tiếp tục di chuyển cao hơn, thỏa mãn điều kiện chốt lời của cả 2 phương pháp tính toán điểm chốt lời: lấy chiều cao của mô hình cộng với giá phá vỡ hoặc lấy chiều cao của mô hình nhân với 62% và sau đó thêm vào giá phá vỡ trên kháng cự. Bulkowski (2005) nhận thấy rằng Mô hình Broadening Top xảy ra trong một xu hướng trung hạn (từ ba đến sáu tháng) thì tốt hơn. Biểu đồ trên xảy ra sau một xu hướng tăng trong ba tháng.

Biểu đồ minh họa cho mô hình Broadening Bottom

 

Broadening-Bottom-Chart-Example.

Một lần nữa, biểu đồ của Chevron (CVX) có một mô hình Broadening, trong trường hợp này là một mô hình mô hình Broadening Bottom vì giá bắt đầu vào mô hình từ phía trên. Có ba đỉnh cao hơn và bốn hoặc năm đáy thấp hơn. Giá phá vỡ dưới mức hỗ trợ và di chuyển xuống đủ để hoàn thành một giao dịch có lợi nhuận bằng cả 2 cách sử dụng phương pháp mục tiêu giá.

 

Nguồn Finvids.com